Có sự khác biệt đáng kể giữa FreeSync 2 và FreeSync không? Công nghệ Quantum Dot có điều gì đặc biệt không ? Đọc để tìm câu trả lời cho những câu hỏi này và nhiều hơn nữa. Nếu bạn chưa đọc phần đầu tiên của loạt bài này, bạn có thể xem phần một tại đây.

I. Đèn nền (backlight)

Bản thân màn hình LCD không tạo ra ánh sáng. Màn hình LCD cần một nguồn cấp ánh sáng bên ngoài. Ngày trước, catốt lạnh ( CCFL ) được đặt trên các cạnh của panel điều khiển đã làm công việc này. Đèn nền LED sau đó được áp dụng và bây giờ là giải pháp được sử dụng rộng rãi nhất. LED tiêu thụ ít năng lượng hơn, chiếm ít không gian hơn và tất nhiên nặng hơn CCFL.

Khi một màn hình hoạt động, các cạnh đèn nền luôn phải bật, làm giảm mức độ màu sắc hay nói cách khác là khu vực màu đen trên màn hình. Vùng làm tối cục bộ ( Zone dimming / local dimming ) đã được phát minh để giảm thiểu vấn đề này. Không giống như đèn nền cạnh được sử dụng rộng rãi,  đèn LED  được bố trí ngay phía sau panel điều khiển. Khi không cần đèn nền, đèn LED sẽ tắt. Tất nhiên, càng có nhiều đèn LED, hiệu ứng nhìn càng tốt, nhưng chi phí lúc này cũng tăng lên.

Ở hiện tại, với một số loại màn hình 27 inch cao cấp, sẽ có 384 vùng làm tối cục bộ trong khi màn hình 35 inch với tỉ lệ 21: 9 được trang bị 512 vùng làm tối cục bộ này. Hiệu ứng của màu đen thật sự có vẻ tốt, nhưng vẫn không hoàn hảo. Nếu con trỏ chuột trắng xuất hiện trên nền đen, xung quanh con trỏ sẽ có quầng sáng, vì các vùng làm tối cục bộ không đủ nhỏ.

Đèn nền có thể được điều khiển bởi Pulse With Modulation (PWM) hoặc Direct Controller (DC). PWM dễ thực hiện hơn nhưng nó có thể khiến hình ảnh bị nhấp nháy. Bộ điều khiển DC phức tạp hơn và đắt tiền hơn nhưng nó giúp tạo ra hình ảnh không nhấp nháy.

Màn hình OLED không có bất kỳ vấn đề nào, vì mỗi pixel là một nguồn sáng độc lập của riêng nó. Trong khi đó, công nghệ Quantum Dot cũng đáng được đề cập ở đây, mặc dù công nghệ này thường bị hiểu lầm. Thực tế nó chỉ là một cách tiếp cận khác nhau cho một giải pháp hiện có. Đèn LED được sử dụng cho đèn nền trong panel LCD phát ra ánh sáng màu xanh thay vì màu trắng. Điều này mang lại một yếu tố hoạt động không tồn tại trong các màn hình tiêu chuẩn, cụ thể là các tinh thể nano thay đổi ánh sáng.

Các tinh thể nano giúp tăng cường tái tạo màu sắc và mở rộng gam màu. Có thể thực hiện Lượng tử cả cho đèn nền cạnh hoặc với đèn nền đầy đủ với vùng làm tối cục bộ.


II. Tần số quét/tần số làm tươi màn hình ( Refresh Rate )

Đối với màn hình LCD, tốc độ quét 60 Hz là tiêu chuẩn vàng. Tần số quét cao hơn tất nhiên là tốt hơn nhưng hầu hết thường có lợi trong các vấn đề liên quan tới ứng dụng game. game. Tất nhiên, một số màn hình thông thường với mức giá cơ bản hiện nay có tần số quét tiêu chuẩn 75Hz. Theo đó, sự khác biệt rõ rệt đáng chú ý dừng lại ở khoảng 144 Hz. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều muốn sử dụng một màn hình cao cấp với tần số quét lên tới 240 Hz thay vì 144 Hz. Tuy nhiên, sự khác biệt hầu hết rất khó nhận ra, thậm chí nó không sống động bằng sự thay đổi tần số quét 60 Hz so với 120 Hz.

Nếu các game thủ có ý định muốn nâng cao khả năng trải nghiệm, FPS tăng cao hơn trong các tựa game online, chẳng hạn như Counter-Strike: Global Offensive, lúc này các game thủ nên có kế hoạch nâng cấp lên màn hình có tần số quét 120 Hz hoặc cao hơn. Hầu hết các game thủ với rank cao trên thế giới đều sử dụng các màn hình như vậy. Nếu người dùng có đủ khả năng tài chính và nhu cầu cao,  cá nhân người viết khuyên nên đầu tư vào màn hình 120/144/165 Hz, ngay cả đối với những người chỉ chơi một tựa game góc nhìn thứ nhất duy nhất. Bởi thực sự, những loại màn hình này  giúp  nâng cao kinh nghiệm và trải nghiệm tốt hơn. Màn hình 200 hoặc 240 Hz chỉ hữu ích dành cho các game thủ chuyên nghiệp hoặc những người đam mê công nghệ.

III. Công nghệ đồng bộ hóa

AMD FreeSync ngăn các khung hình hiển thị trên màn hình khỏi bị xé hình. Công nghệ này chỉ hoạt động ở một phạm vi trong tần số quét cụ thể. Đối với các sản phẩm có tần số quét 144 Hz chất lượng tốt hơn, dải tần nằm trong khoảng từ 30 Hz đến 144 Hz. Trong các sản phẩm rẻ hơn có tần số quét 75Hz, dải tần chỉ nằm trong khoảng giữa 48 Hz và 75 Hz. Trong nhiều trường hợp, khi tốc độ khung hình trong các tựa game giảm xuống dưới 48 FPS, FreeSync sẽ ngừng hoạt động. Thật không may, hầu hết các nhà sản xuất không quảng cáo phạm vi FreeSync của họ là gì.

FreeSync giúp tăng cường đáng kể trải nghiệm hình ảnh của các tựa game, vì việc xé hình trong các tựa game có thể thực sự gây khó chịu. Tất nhiên, nếu game thủ chơi các tựa game online thì nên disable nó để tối đa hóa điểm số. Ngoài ra, nó còn mang tới một độ trễ nhỏ, điều này không sao đối với các game thủ thông thường, nhưng ở mức chuyên nghiệp thì độ trễ này cũng khiến tạo ra sự khác biệt.

FreeSync có thể hoạt động trên DisplayPort và trong hầu hết các màn hình mới qua cổng kết nối HDMI. Nó phải được kích hoạt trong Trình điều khiển Radeon của AMD cung cấp để hoạt động. Cũng cần nhớ rằng đó là tiêu chuẩn mở - không cần chứng nhận từ AMD để màn hình tương thích FreeSync.

FreeSync 2 HDR không phải là sự kế thừa của FreeSync trước đó. Có thể hiểu nó là một phiên bản tinh tế hơn cùng tồn tại song song. Chúng ta có thể nghĩ về FreeSync 2 HDR  giống như một phiên bản cao cấp hơn của FreeSync tiêu chuẩn. FreeSync 2 HDR  đi kèm với các yêu cầu công nghệ nghiêm ngặt và màn hình phải được AMD chấp thuận để được phép sử dụng tính năng này. Một trong những yêu cầu là khả năng tương thích HDR10 và khả năng tương thích LFC, cả hai điều chúng ta sẽ nói ở phần sau. Cuối cùng, FreeSync 2 HDR là một tính năng đặc biệt có thể được kích hoạt trong một tựa game, như Far Cry 5 hoặc Strange Brigade.

LFC (Low Framerate Compensation) không được các nhà sản xuất màn hình tiếp thị rộng rãi.  Tính năng này đặc biệt hữu ích trong các hệ thống PC ít mạnh hơn hoặc người dùng phải đặt tất cả các thanh trượt chất lượng đồ họa ở mức tối đa. Những gì nó làm là thêm các khung hình trung gian giữa các chiều khi các tựa game có tốc độ khung hình giảm xuống dưới 30 FPS. Điều này có vẻ như một mánh lới quảng cáo, nhưng nó hoạt động tốt đáng ngạc nhiên. Ít quan trọng hơn, nó cho phép tính năng FreeSync hoạt động mặc dù trong điều kiện bình thường, nó sẽ bị tắt.

LFC là một kỹ thuật tương tự như những gì người dùng sẽ tìm thấy trong các loại TV mới hiện tại. Tất nhiên thủ thuật này chỉ hữu ích nếu game thủ sử dụng các tựa game chỉ một người chơi. Nếu game thủ đang chơi ở chế độ nhiều người chơi, nó sẽ cung cấp rất ít trợ giúp. Hơn nữa, phần mềm như FRAPS sẽ không cho game thủ thấy LFC đang hoạt động như thế nào, mặc dù bộ đếm khung tích hợp trên màn hình nếu có sẽ hiển thị. Theo như người viết bài này, LFC không thể bị vô hiệu hóa trong Trình điều khiển Radeon.

Như đã đề cập trước đó, LFC là một tính năng bắt buộc của màn hình HDR FreeSync 2. Nhưng các nhà sản xuất cũng có thể chọn triển khai nó trong các sản phẩm FreeSync tiêu chuẩn như một tính năng bổ sung.

 



AMD Enhanced Sync là công nghệ bổ sung độc đáo cho FreeSync hoặc FreeSync 2 HDR. Tóm lại, nó ngăn việc xé hình khi FPS trong các tựa game vượt quá khả năng của tần số quét mà màn hình cho phép (ví dụ: 180 FPS trên màn hình 165 Hz). Thông thường trong trường hợp như vậy, FreeSync sẽ tự động bị hủy kích hoạt; hoặc, để ngăn chặn việc hủy kích hoạt, người dùng cần bật VSync để giữ tốc độ khung hình dưới tần số quét.

Điều đáng chú ý là AMD Enhanced Sync có thể được bật độc lập với FreeSync (2 HDR). Và không giống như FreeSync, nó có thể được bật trên bất kỳ màn hình nào, bởi vì đây hoàn toàn là một tính năng từ phần mềm.

Tóm lại, nếu bạn đã bật FreeSync, LFC và EnhizedSync, đồng bộ hóa sẽ luôn được kích hoạt.

Cuối cùng, có vấn đề về strobing , một kỹ thuật mô phỏng cách các màn hình CRT hoạt động để giảm vùng tối cục bộ. Nó cũng có thể mang lại độ trễ đầu vào dưới mức có thể về mặt lý thuyết cho panel điều khiển. Trong khi tất cả điều này nghe có vẻ rất tốt, hãy lưu ý những nhược điểm:

Hình ảnh trở nên tối hơn, vì định kỳ đèn nền màn hình phải tắt. Trong thực tế, độ sáng tổng thể của màn hình thấp hơn bình thường.

Nó không hoạt động cùng với các công nghệ đồng bộ hóa. Vì vậy, người dùng phải chọn giữa strobing hoặc FreeSync, nhưng sẽ không thể chọn cả hai.

Đối với một số người dùng, việc sử dụng strobing kéo dài có thể làm căng mắt hoặc thậm chí gây đau đầu.

Strobing có thể là một lựa chọn tốt cho những người chơi cạnh tranh hoặc những người tìm kiếm sự linh hoạt về hình ảnh.

IV. HDR

HDR trên PC không phải là một chủ đề dễ dàng và màn hình HDR vẫn chưa quá phổ biến và hiện nó quá chậm chạp để phổ biến trên thị trường. Trên hết, hãy nhớ rằng có nhiều tiêu chuẩn HDR khác nhau và nhiều yêu cầu phải được đáp ứng nếu công nghệ này hoạt động trên PC.

Với phần thứ ba và phần cuối của loạt bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu về gam màu, công nghệ FRC và tại sao màn hình 2000$ phải làm giảm chất lượng hình ảnh của chúng để hiển thị những gì chúng có thể làm.